Tình hình sản xuất chăn nuôi tháng 07

TÌNH HÌNH CHUNG (mới cập nhật)

Chăn nuôi 7 tháng đầu năm khá ổn định, dịch bệnh không xảy ra, giá bán có lợi cho người chăn nuôi. Ước tính đàn bò cả nước tăng 2-3% so với cùng kỳ năm 2014, đặc biệt là bò sữa tăng cao do một số doanh nghiệp tăng cường đầu tư mở rộng mô hình chăn nuôi. Chăn nuôi lợn phát triển khá ổn định, cả nước tăng 2,5-3% so với cùng kỳ năm 2014. Chăn nuôi gia cầm với quy mô lớn, đảm bảo an toàn dịch bệnh ngày càng được các địa phương chú trọng trong khi chăn nuôi nhỏ lẻ có xu hướng giảm dần. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tăng khoảng 3,5 – 4% so với cùng kỳ năm 2014.

T7

 

TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHĂN NUÔI

Chăn nuôi trâu, bò:

Theo số liệu ước tính của Tổng Cục Thống kê, tổng số trâu cả nước giảm 0,5-1%; tổng số bò tăng 2-3% so với cùng kỳ năm 2014. Đàn trâu có xu hướng giảm do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả chăn nuôi thấp, trong khi đàn bò, đặc biệt là bò sữa tăng cao do một số doanh nghiệp tăng cường đầu tư mở rộng mô hình chăn nuôi.

Chăn nuôi lợn:

Theo ước tính của TCTK, chăn nuôi lợn cả nước tăng 2,5-3% so với cùng kỳ năm 2014. Chăn nuôi lợn phát triển khá ổn định do dịch lợn tai xanh không xảy ra và giá bán lợn hơi vẫn ở mức có lợi cho người chăn nuôi.

Chăn nuôi gia cầm:

Chăn nuôi gia cầm với quy mô lớn, đảm bảo an toàn dịch bệnh ngày càng được các địa phương chú trọng, trong khi chăn nuôi nhỏ lẻ có xu hướng giảm dần. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tăng khoảng 3,5 – 4% so với cùng kỳ năm 2014.

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y, tính đến thời điểm 19/08/2015, cả nước không có địa phương nào có dịch lợn tai xanh. Hiện nay, cả nước có các ổ dịch Cúm gia cầm H5N1 chưa qua 21 ngày như sau: Ổ dịch tại 01 hộ chăn nuôi thuộc xã Nhị Long Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (đã qua 11 ngày); ổ dịch xảy ra tại 01 hộ chăn nuôi thuộc xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (đã qua 08 ngày) và ổ dịch xảy ra tại 01 hộ chăn nuôi thuộc xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (đã qua 01 ngày). Hiện nay, dịch LMLM tại 16 hộ chăn nuôi của xã Phương Điền, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đã qua 13 ngày không phát sinh thêm gia súc mắc bệnh.

THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI

Biểu đồ 1. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

BDo

Xem chi tiết tại: http://mauxanh.vn/bieu-do-gia-heo-ga.html

Giá lợn hơi tại nhiều địa phương nhìn chung đang sụt giảm khiến người chăn nuôi bị lỗ và để đối phó với tình trạng này, người chăn nuôi chọn cách giảm đàn, chuyển sang nuôi lợn sinh sản để cầm cự hoặc ngừng nuôi để cắt lỗ. Cụ thể là, tại Vũng Liêm, Vĩnh Long, giá thu mua lợn hơi đã giảm khoảng 4.000 đ/kg so với tháng trước, hiện đạt 41.000 đ/kg; Thoại Sơn, An Giang giảm khoảng 2.000 – 3.000 đ/kg, hiện đạt 45.000 đ/kg. Riêng tại Phú Yên, trong gần 5 tháng qua, giá lợn hơi liên tục giảm từ 45.000 đ/kg xuống còn 32.000 – 34.000 đ/kg và chưa có dấu hiệu tăng trở lại. Cùng xu hướng giảm giá với giá lợn hơi, giá gia cầm tại nhiều địa phương thời gian qua cũng giảm mạnh do chi phí đầu vào tăng và do thịt nhập khẩu giá rẻ về nhiều. Hiện giá thu mua gà thịt lông màu tại trại ở các tỉnh Đông Nam Bộ và ĐBSCL đang ở mức 31.000 – 33.500 đ/kg và 31.000 – 33.000 đ/kg, giảm lần lượt là 9.500–12.000 đ/kg và 10.000 – 12.000 đ/kg so với mức giá đạt được vào đầu tháng trước

 

TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU

Thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu

Giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 7/2015 ước đạt 281 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2015 đạt 1,96 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2014. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này là Achentina (chiếm 38% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (17,5%); Brazil (7,0%) và Trung

Lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 7/2015 đạt 95 nghìn tấn với giá trị đạt 23 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu lúa mì trong 7 tháng đầu năm 2015 đạt 1,28 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 346 triệu USD, tăng 15,4% về khối lượng nhưng lại giảm 3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính là Úc, chiếm tới 59,2%; tiếp đến là Brazil chiếm 22,8% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Thị trường có giá trị tăng mạnh so với cùng kỳ là Canada (2,3 lần).

Đậu tương:
Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 7/2015 đạt 68 nghìn tấn với giá trị 29 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 7 tháng đầu năm 2015 đạt 930 nghìn tấn, giá trị nhập khẩu đạt 432 triệu USD, giảm 5,2% về khối lượng và giảm 25,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.
 
Ngô:
Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 7/2015 đạt 469 nghìn tấn với giá trị đạt 101 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 7 tháng đầu năm 2015 đạt 3,75 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 856 triệu USD, tăng 41,7% về khối lượng và tăng 24,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Braxin, Achentina và Ấn Độ là ba thị trường nhập khẩu chính của mặt hàng này, chiếm lần lượt 52,5%; 41,4% và 3% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Thị trường có giá trị tăng đột biến so với cùng kỳ là Achentina (hơn 45 lần).

XK sắn và các sản phẩm từ sắn:

Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 7 năm 2015 ước đạt 157 nghìn tấn, với giá trị đạt 65 triệu USD đưa tổng khối lượng xuất khẩu mặt hàng này 7 tháng đầu năm 2015 đạt 2,89 triệu tấn với giá trị 886 triệu USD, tăng 35,4% về khối lượng và tăng 30,9% về giá trị so cùng kỳ năm 2014. Trong 6 tháng đầu năm 2015, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính chiếm tới 89,36% thị phần, tăng 53,47% về khối lượng và tăng 46,15% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị phần của các thị trường chính khác đều nhỏ hơn 2%. Các thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là Nhật Bản (hơn 10 lần) và Đài Loan (64%).

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com/

Lên đầu trang