Tình hình sản xuất chăn nuôi tháng 10

TÌNH HÌNH CHUNG

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, tình hình chăn nuôi cả nước tương đối ổn định, giá trị sản xuất 9 tháng ở mức xấp xỉ 4% là do: Chăn nuôi lợn phát triển tương đối tốt do nhu cầu thị trường đầu ra ổn định, giá thịt lợn hơi duy trì lãi suất cho người chăn nuôi. Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng 9/2015 tăng khoảng 2,5-3%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi gia cầm cũng tăng trưởng khá. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 9/2015 tăng khoảng 3-3,5%; sản lượng thịt gia cầm tăng 9 tháng tăng khoảng 5,33% so với cùng kỳ năm trước.

T10

Chăn nuôi trâu, bò: Trong 9 tháng qua, đàn trâu, bò cả nước phát triển tương đối ổn định, không xảy ra dịch bệnh lớn. Đàn bò sữa tiếp tục tăng nhanh do sự đầu tư của các doanh nghiệp kết hợp với điều kiện thuận lợi ở một số địa phương. Theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số trâu của cả nước tháng 9/2015 giảm khoảng 1%, tổng số bò tăng khoảng 2- 2,5% so với cùng kỳ năm 2014

Chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn phát triển tương đối tốt do nhu cầu thị trường đầu ra ổn định, giá thịt lợn hơi duy trì lãi suất cho người chăn nuôi. Mô hình chăn nuôi lớn tiếp tục đem lại hiệu quả về kinh tế xã hội, bên cạnh đó việc hình thành các chuỗi liên kết trong sản xuất giữa người chăn nuôi và các doanh nghiệp, hệ thống phân phối đang dần được chú ý và áp dụng. Theo ước tính của TCTK, tổng số lợn của cả nước tháng 9/2015 tăng khoảng 2,5- 3%.

Chăn nuôi gia cầm: Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 9/2015 tăng khoảng 3-3,5% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, chăn nuôi gia cầm với quy mô lớn, đảm bảo an toàn dịch bệnh ngày càng được các địa phương chú trọng trong khi chăn nuôi nhỏ lẻ đang có xu hướng giảm dần.

Sản lượng thịt: Theo số liệu thống kê của TCTK, trong 9 tháng đầu năm, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng giảm 1,9%, sản lượng thịt bò hơi tăng 2,39%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 3,71%, sản lượng thịt gia cầm tăng khoảng 5,33% so với cùng kỳ năm trước.

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y, tính đến thời điểm 26/09/2015, cả nước không có dịch tai xanh xãy ra. Hiện nay, cả nước có các ổ dịch Cúm gia cầm A/H5N1 chưa qua 21 ngày như sau: ổ dịch tại xã Mỹ Thuận, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long (đã qua 15 ngày) và ổ dịch tại xã Thạch Trị, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh (đã qua 05 ngày) không có thêm gia cầm mới mắc bệnh. Về Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM), hiện nay, cả nước có các ổ dịch LMLM  chưa qua 21 ngày như sau:

Đối với ổ dịch LMLM týp O: có các ổ dịch xảy ra tại 10 hộ chăn nuôi của 02 xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương và xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (đã qua 13 ngày);  ổ dịch xảy ra tại 02 hộ chăn nuôi của xã Tân Mỹ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (đã qua 12 ngày); ổ dịch xảy ra tại 22 hộ chăn nuôi thuộc phường Thành Nhất và xã Cư Ebur, thành phố Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk (đã qua 09 ngày); ổ dịch xảy ra tại xã Thuận Hòa (đã qua 08 ngày) và ổ dịch ở thị trấn Châu Thành (đã qua 04 ngày), huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng không có gia súc mới mắc bệnh.
Đối với ổ dịch LMLM týp A: có ổ dịch xảy ra ở xã Song Khủa, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La (đã qua 05 ngày) không có gia súc mới mắc bệnh.
 

THỊ TRƯỜNG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI

Biểu đồ 1. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại: http://mauxanh.vn/bieu-do-gia-heo-ga.html

Thời gian qua, giá lợn hơi tại các tỉnh phía Nam giảm do sức tiêu thụ lợn hơi của các tỉnh phía Bắc giảm, trong khi nguồn cung lợn tới lứa đang tăng. Giá thu mua lợn hơi tại trại ở khu vực Đông Nam Bộ đã giảm khoảng 500-1.000 đ/kg và giảm 1.000 – 2.000 đ/kg tại khu vực ĐBSCL xuống các mức tương ứng là 45.000 đ/kg và 43.000 đ/kg. Giá thu mua gà thịt lông màu tại trại tại khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL hiện đang ở mức 28.000 – 29.000 đ/kg, giảm khoảng 4.000 – 4.500 đ/kg so đầu tháng.

TÌNH HÌNH NHẬP KHẨU

Thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu

Giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 9/2015 ước đạt 344 triệu USD, đưa giá trị nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2015 đạt 2,59 tỷ USD, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2014. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này là Achentina (chiếm 42% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (14,4%); Brazil (7,8%) và Trung Quốc (5,9%). Thị trường có giá trị tăng đột biến so với cùng kỳ là Áo (hơn gần 80 lần).

Lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 9/2015 đạt 327 nghìn tấn với giá trị đạt 75 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu lúa mì trong 9 tháng đầu năm 2015 đạt 1,84 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 480 triệu USD, tăng 20,6% về khối lượng nhưng lại giảm 1,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị trường nhập khẩu lúa mì chính là Úc, 13 chiếm tới 54,1%; tiếp đến là Brazil chiếm 18,6% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Thị trường có giá trị tăng mạnh so với cùng kỳ là Áo (tăng gấp 17 lần).

Đậu tương:
Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 9/2015 đạt 21 nghìn tấn với giá trị 10 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2015 đạt 1,195 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 547 triệu USD, tăng 2,1% về khối lượng và giảm 20% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.
 
Ngô:
Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 9/2015 đạt 408 nghìn tấn với giá trị đạt 84 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này trong 9 tháng đầu năm 2015 đạt 4,67 triệu tấn, giá trị nhập khẩu đạt 1,04 tỷ USD, tăng 48,9% về khối lượng và tăng 28,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Braxin và Achentina là hai thị trường nhập khẩu chính của mặt hàng này, chiếm lần lượt là 48,1% và 46,6% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Thị trường có giá trị tăng đột biến so với cùng kỳ là Achentina (hơn 10 lần).
 
Sữa và SP sữa:

Theo số liệu của Bộ Công thương, 8 tháng đầu năm 2015, kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa đã giảm gần 18% so với cùng kỳ năm 2014, với trị giá ước đạt khoảng 640 triệu USD.

“Nguồn cung sữa trong nước tăng lên là nguyên nhân chính khiến cho nhập khẩu mặt hàng này giảm mạnh, và người tiêu dùng được mua sữa giá tốt”, đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam cho biết.

Cụ thể, sản lượng sữa bột trong nước 8 tháng qua đạt 58,7 nghìn tấn, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2014. Cùng với đó, sản lượng sữa tươi đạt 701,5 triệu lít, tăng 15,6% so với cùng kỳ.

Việt Nam nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa với giá trị lớn  từ các thị trường chủ lực từ nhiều năm nay, gồm New Zealand, Hoa Kỳ, Singapore, Thái Lan, Đức, Australia…trong đó Newzealand là nguồn cung cấp chính, chiếm 25,8% tổng kim ngạch, với 149,5 triệu USD. Đứng thứ hai là thị trường Hoa Kỳ, với 84,9 triệu USD.

Nhập khẩu sữa và sản phẩm đều giảm ở hầu hết các thị trường, trong đó nhập từ thị trường Đan Mạch giảm mạnh nhất, giảm 89,41%, chỉ còn 872,3 nghìn USD. Nhập khẩu từ Hoa Kỳ giảm 44,97% về trị giá, trong khi cùng kỳ 2014 là 145,4 triệu USD, tư Malaysia giảm 34,3%, chỉ còn 16 triệu USD, trong khi cùng kỳ là 23,4 triệu USD.

Kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa liên tục tăng mạnh trong những năm gần đây. Công bố của Hiệp hội Sữa Việt Nam cho thấy, nếu năm 2007, nhập khẩu sữa mới dừng ở 462 triệu USD, thì 2010 vọt lên 706 triệu USD và đến 2013 đã là 1,089 tỷ USD. Năm 2014, chi nhập khẩu sữa đã vượt 1,150 tỷ USD.

Diễn biến chi nhập khẩu sữa giảm trong 8 tháng đầu năm 2015 là một tín hiệu đáng mừng về khả năng tự đáp ứng của ngành sữa trong nước.  4 tháng còn lại của năm 2015, nếu giữ mức nhập khẩu trung bình khoảng 63 triệu USD/tháng, Hiệp hội Sữa Việt Nam dự báo, chi nhập khẩu sữa và sản phẩm từ sữa nước ta trong năm 2015 sẽ ở mức 890 – 920 triệu USD.

XK sắn và các sản phẩm từ sắn:

Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 9 năm 2015 ước đạt 235 nghìn tấn, với giá trị đạt 84 triệu USD đưa tổng khối lượng 12 xuất khẩu mặt hàng này 9 tháng đầu năm 2015 đạt 3,27 triệu tấn với giá trị 1,03 tỷ USD, tăng 28,4% về khối lượng và tăng 24,3% về giá trị so cùng kỳ năm 2014. Trong 8 tháng đầu năm 2015, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu chính chiếm tới 89,17% thị phần, tăng 37,1% về khối lượng và tăng 33,03% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Thị phần của các thị trường chính khác đều nhỏ hơn 2%. Các thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất là Nhật Bản (tăng 72,29% về khối lượng và tăng 84,45% về giá trị) và Đài Loan (tăng 46% về khối lượng và tăng 43,51% về giá trị).

Nguồn tin: http://channuoivietnam.com/

Lên đầu trang