Chuyển giao khoa học công nghệ cho nông thôn, miền núi chưa hiệu quả

Từ năm 1998 đến nay, trải qua ba giai đoạn, với 2.746 tỷ đồng được đầu tư vào Chương trình Hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nông thôn và miền núi (Chương trình NTMN), nhưng thực tế, hiệu quả từ các mô hình, dự án mà Chương trình mang lại rất thấp, chưa như mong muốn.

Dự án nhiều, vốn ít

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (Bộ KHCN), Chương trình NTMN được triển khai theo ba giai đoạn 1998-2002, 2004-2010 và 2011-2015, với tổng số tiền đầu tư là 2.746 tỷ đồng để thực hiện 845 dự án tại 62 tỉnh, thành phố. Trong đó, kinh phí hỗ trợ từ ngân sách sự nghiệp KHCN của Trung ương là hơn 1.081 tỷ đồng, chiếm 39,4%; còn lại huy động từ người dân, doanh nghiệp và ngân sách địa phương là 1.665 tỷ đồng.

Riêng giai đoạn 3 từ năm 2011 đến nay, Bộ KHCN đã phối hợp với các bộ, ngành, và các tỉnh, thành phố triển khai thực hiện 317 dự án, với tổng kinh phí gần 1.740 tỷ đồng, trong đó kinh phí Trung ương hỗ trợ 663 tỷ đồng, và huy động từ ngân sách địa phương, doanh nghiệp và người dân 1.076 tỷ đồng. Các dự án được phân bố tương đối đồng đều ra hầu hết các địa phương trong cả nước: khu vực đồng bằng, ven biển có 159 dự án, khu vực miền núi, trung du 158 dự án. Trong đó, có 98 dự án được triển khai tại địa bàn có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, ba dự án ở địa bàn hải đảo và 216 dự án tại các địa bàn khác.

Bên cạnh điểm tích cực là số dự án và kinh phí cho chương trình đã tăng nhanh qua các giai đoạn, cụ thể: giai đoạn đầu chỉ có 272 tỷ đồng, giai đoạn 2004-2010 kinh phí thực hiện các dự án đã tăng gần 170%, tương đương tăng hơn 462 tỷ đồng, và giai đoạn 2011-2015 tiếp tục tăng thêm hơn 1.004 tỷ đồng. Đáng chú ý, mặc dù số dự án giai đoạn 3 chỉ chiếm 40% tổng số dự án của Chương trình (317/845 dự án), nhưng số tiền hỗ trợ KHCN lại tăng gần gấp đôi. Như vậy, các giai đoạn trước, số vốn dành cho mỗi dự án chỉ hơn hai tỷ đồng, giai đoạn 3 tăng lên năm tỷ đồng/dự án. Nếu chia đều cho cả ba giai đoạn, bình quân kinh phí cho mỗi dự án chỉ hơn ba tỷ đồng.

Do nguồn kinh phí còn hạn hẹp, lại “rải mành mành” ra nhiều địa bàn, cho nên Chương trình chưa đáp ứng được nhu cầu thực hiện của các địa phương. Ngay cả giai đoạn 2011-2015 được coi là khá “rủng rỉnh” về nguồn vốn, và số dự án các địa phương đề xuất được thực hiện cũng tăng lên tới 489 dự án, nhưng rà đi xét lại, Bộ KHCN chỉ phê duyệt cho phép triển khai thực hiện 322 dự án, và cuối cùng có 317 dự án triển khai thực hiện, chiếm 65,8% số dự án đề xuất. Trong đó, hai địa phương là TP Hồ Chí Minh và tỉnh Tiền Giang không có dự án nào.

Hiệu quả thấp TS Đỗ Tuấn Khiêm (Sở KHCN tỉnh Bắc Cạn) cho biết, là tỉnh miền núi vùng cao, đời sống của đồng bào dân tộc chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp là chính, vì vậy nhu cầu về việc ứng dụng KHCN vào sản xuất nông nghiệp rất lớn, nhưng trong cả ba giai đoạn từ năm 1998 đến 2015, tỉnh Bắc Cạn chỉ được Bộ KHCN phê duyệt 11 dự án với tổng kinh phí hơn 20 tỷ đồng, trong đó có một dự án thuộc nhóm Trung ương quản lý, còn lại 10 dự án được ủy quyền cho địa phương thực hiện, trong đó lĩnh vực trồng trọt có sáu dự án; hai dự án thuộc lĩnh vực bảo quản chế biến; chăn nuôi có một dự án; còn lại là lĩnh vực khác. Do các dự án thuộc Chương trình có số vốn quá ít, bình quân chưa đến hai tỷ đồng/dự án, cho nên hiệu quả và sức lan tỏa của các mô hình sau khi kết thúc dự án chưa nhiều.

Theo TS Lê Ngọc Anh, Phó Giám đốc Sở KHCN Hà Nội, nhiều dự án ở ngay Hà Nội bị chậm so với hợp đồng và thuyết minh đề cương đã được Bộ KHCN duyệt vì “ông chẳng, bà chuộc”. Nguyên nhân bởi việc phối hợp giữa cơ quan chuyển giao KHCN và đơn vị chủ trì chưa tốt, thậm chí cán bộ làm công tác chuyển giao “làm khó” người nhận ứng dụng. Cụ thể như Dự án sản xuất dưa chuột và rau xà lách an toàn không dùng đất tại huyện Hoài Đức, thực hiện từ tháng 6-2008, nhưng trong quá trình thảo luận ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, tác giả của công nghệ đưa ra điều kiện khi chuyển giao và thực hiện xây dựng mô hình không được cho các đoàn vào tham quan, nếu không có sự đồng ý của tác giả!? Vì vậy, việc ký hợp đồng với cơ quan chuyển giao kéo dài đúng một năm vẫn chưa thực hiện được. Buộc đơn vị chủ trì dự án phải gửi công văn tới Bộ KHCN “cầu cứu” để nhận được sự quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn xử lý.

Từ 845 dự án của Chương trình NTMN, các địa phương đã xây dựng được hơn 2.500 mô hình sản xuất, nhưng khi dự án kết thúc, số mô hình phát huy được hiệu quả còn rất khiêm tốn. Ngoài lý do thiếu vốn, thời gian thực hiện một dự án quá ngắn, thông thường chỉ kéo dài trong hai năm, trong khi nhiều dự án chăn nuôi, trồng trọt để đánh giá được hiệu quả kinh tế thì phải mất từ sáu đến bảy năm. Do đó, với thời gian hai năm, nhiều dự án sẽ không thể đánh giá được hiệu quả kinh tế của các mô hình. Chưa kể thời gian bắt đầu phê duyệt các dự án đến lúc triển khai thực hiện thường mất cả năm, thậm chí năm rưỡi, do đó có dự án công nghệ đang được chuyển giao nhưng đã trở thành lạc hậu bởi công nghệ mới đã ra đời.

Chứng minh cho bất cập này, TS Nguyễn Hồng Vĩ, Phó Viện trưởng Viện Dân tộc cho biết: Trong giai đoạn 2011-2015, Ủy ban Dân tộc được giao là cơ quan quản lý chỉ đạo thực hiện dự án Ứng dụng tiến bộ KHCN phát triển chăn nuôi gia cầm bền vững tại huyện Kim Bôi (Hòa Bình), với thời gian thực hiện là hai năm (2014-2015), song do tính chất của ngành chăn nuôi gia cầm sinh sản, liên quan đến thời gian khai thác trứng và chế biến gia cầm. Vì vậy, sau khi kết thúc dự án vào cuối năm nay, đến giai đoạn hậu dự án sẽ còn kéo dài đến hết năm 2016, nhưng để đánh giá kết quả của “hậu dự án”, đơn vị chủ trì sẽ gặp khó khăn vì hết kinh phí hỗ trợ phần thiết bị máy ấp trứng gia cầm cũng như thuê kỹ thuật để theo dõi tiếp dự án! Nói gì đến kinh phí để hỗ trợ nhân rộng mô hình sau khi kết thúc.

images (6)

Hình minh hoạ

Đổi mới cách đầu tư

Nguyên nhân của những bất cập khi thực hiện Chương trình NTMN, theo PGS, TS Lê Xuân Thám, Giám đốc Sở KHCN tỉnh Lâm Đồng, trước hết bắt nguồn từ chất lượng nguồn nhân lực tại khu vực NTMN chưa đồng đều. Mặc dù số lao động thất nghiệp ở các địa phương hiện nay là rất lớn, nhưng không đáp ứng được yêu cầu sản xuất của các doanh nghiệp do chưa được đào tạo nghề. Nhiều hộ dân ở địa bàn nông thôn và miền núi thu nhập thấp, con em không có điều kiện đến trường, đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiếp thu, nắm bắt tiến bộ kỹ thuật. Trong khi đó, cơ chế giám sát, chỉ đạo giữa Văn phòng Chương trình NTMN với Sở KHCN và chính quyền địa phương đối với các dự án Trung ương quản lý chưa phân định rõ trách nhiệm của các bên trong chỉ đạo, quản lý cho nên việc kiểm tra, giám sát chưa được tiến hành thường xuyên, đồng bộ. Đã vậy, mức kinh phí hỗ trợ cho các dự án đa số lại quá thấp, thời gian cấp kinh phí lại chậm, chưa kể yếu tố trượt giá do lạm phát. Vì vậy, các dự án sản xuất ra sản phẩm hàng hóa chưa có quy mô lớn, không khép kín từ khâu phát triển vùng nguyên liệu đến chế biến và đưa sản phẩm ra thị trường, hay nói cách khác, là việc tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chưa thể phát triển theo chuỗi.

Để Chương trình NTMN mang lại hiệu quả thiết thực, trước hết, cơ quan quản lý dự án cần tổng kết, đánh giá hiệu quả của các dự án trong thời gian qua, nhằm làm lan tỏa dự án có hiệu quả, gạt bỏ những dự án không đem lại kết quả. Trên cơ sở đó, tổ chức lựa chọn các dự án bám sát với nhu cầu thực tế của từng địa phương để xác định những dự án phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và phát huy được những thế mạnh của địa phương; cần ưu tiên những dự án khai thác được tiềm năng của địa bàn, tạo ra sản phẩm mới, đồng thời phải có biện pháp tạo ra thị trường đầu ra cho tiêu thụ sản phẩm.

Hai là, cần chọn các cơ quan chuyển giao công nghệ có công nghệ tốt, có tiềm lực KHCN, có lực lượng cán bộ KHKT tâm huyết, nhiệt tình để giúp đỡ người dân, doanh nghiệp tiếp thu những kỹ thuật mới trong quá trình triển khai dự án. Đặc biệt coi trọng việc nâng cao nhận thức, đào tạo bồi dưỡng tay nghề cho lực lượng lao động địa phương; xây dựng đội ngũ kỹ thuật viên và bồi dưỡng kiến thức quản lý sản xuất cho cán bộ địa bàn để có thể duy trì và phát triển kết quả của dự án sau khi kết thúc.

Ba là, cần tổ chức tuyên truyền, vận động để huy động các nguồn lực trong nhân dân và khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thực hiện dự án nhằm đổi mới công nghệ để tạo ra các sản phẩm có giá trị cao và thu hút nguồn lực xã hội tham gia vào sản xuất. Có cơ chế, chính sách khuyến khích các cán bộ khoa học trẻ tình nguyện về “nằm vùng”, “cắm bản” để hướng dẫn chuyển giao KHCN tại các vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Khi lựa chọn đối tượng được tham gia đào tạo tập huấn, cần chú trọng ưu tiên phụ nữ, nhất là phụ nữ người dân tộc thiểu số.

Bốn là, tiếp tục thực hiện quản lý dự án theo mô hình hai cấp T.Ư và địa phương. Trong đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan KHCN ở Trung ương, địa phương và chính quyền địa phương trên địa bàn ngay từ quá trình xây dựng, thuyết minh dự án để xác định nội dung cụ thể của dự án một cách sát thực, chính xác, bảo đảm cho việc triển khai thành công. Thời gian thực hiện Chương trình NTMN ít nhất phải là 10 năm và mức đầu tư từ ngân sách nhà nước giai đoạn tới phải tăng ít nhất 30% so với giai đoạn 2011-2015, có như vậy mới nâng cao được hiệu quả chương trình.

Tác giả: Linh Kiều

Nguồn tin: Báo Nhân Dân

Lên đầu trang